Miếng trầu là đầu câu chuyện

Người xưa gặp nhau thì mời miếng trầu, cũng như ngày nay mời điếu thuốc vậy. Miếng trầu hay điếu thuốc là cách xã giao để mở đầu câu chuyện. Vì thế, chúng tôi mở đầu mục này với “miếng trầu”. Tục “ăn trầu” có từ thời vua Hùng, qua sự tích “trầu cau” như sau: Ngày xưa có hai anh em nhà nọ giống nhau như đúc, cùng đến học nhà một ông thầy đồ. ông thầy gả con gái cho người anh. Một thời gian sau, do có chuyện hiểu lầm, người em buồn phiền, bỏ nhà đi vào rừng. Đi lang thang cả ngày môi chân, đến bở suối ngồi nghỉ mệt, rồi biến thành hòn đá. Người anh không thấy em về nhà bèn đi vào rừng kiếm. Đi mãi chẳng thấy, chân đã mỏi, anh ta bèn đến bờ suối uống nước, ngồi nghỉ bên cạnh hòn đá mà tưởng nhớ đến em, rồi biến thành cây cau. Cô vợ không thấy chồng về nên vào rừng tìm. Đi khắp nơi tìm kiếm không thấy, bèn đến bở suối, dựa vào cây cau mà than khốc. Cô nàng biến thành cây trầu leo quanh cây cau.
Vua Hùng đi qua nơi đó, nghe chuyện, bèn lấy lá trầu giã với quả cau rồi đổ lên hòn đá, thì lạ quá: chỗ đó có màu đỏ. Người ta bảo rằng nỗi u uất cửa ba người đã được giải tòa, vợ chồng anh em đều đã cảm thông hòa hợp; màu máu đỏ thể hiện sự thẳng thắn thủy chung của ba anh em. Từ đó có phong tục dùng trầu cau trong lễ cưới hỏi, hội hè; thể hiện sự chung thủy của người Việt Nam.

la-trau-cau

– Cây trầu có tên khoa học là Piper betle, họ Hồ tiêu. Lá trầu vị cay nồng, mùi thơm gắt, tính ấm. Lá trầu có tác dụng hành khí hoạt huyết, dừng để tiêu đờm, trừ phong thấp, tiêu viêm và sát trùng.
Người ta dùng lá trầu để trị đau bụng, đầy hơi, sôi bụng, ợ hơi. Cách dùng như sau: hơ nóng lá trâu rồi đắp lên rốn. Có người đắp lá trầu lên rốn hoặc vào các huyệt khí hài, thủy phân, dùng nhang hơi nóng phía trên. Việc hơ nóng có mục đích làm chất thuốc ngấm qua da vào phần trong để hành khí hoạt huyết.

Có người dùng lá trầu để đánh gió trị cảm mạo. Cách dùng như sau: vò nát lá trầu, bọc vào trong miếng vải, nhúng nước sôi, đánh gió ở hai bên sống lưng (bàng quang kinh) vói mục đích thông khí và đuổi tà khí. Cách này áp dụng cho trẻ em rất tốt vì da các em còn mông, không nên cạo gió.

Người ta còn dừng lá vò nát đắp quanh mụn nhọt, hoặc nấu nước tắm trị rôm sảy, ghẻ ngứa.

Ngậm nước lá trầu trong miệng để trị bệnh viêm nha chu.

Lá trầu có các chất polyphenol kháng khuẩn (Chavicol, Chaviheto), diệt được các khuẩn tụ cầu, trực trùng Coli…

Quả cau còn gọi là bình lang, tên khoa học là Areca catechu. Quả và hạt đều có vị chát, hơi cay, tính ấm, đi vào các kinh tỳ vị, đại và tiểu trường. Quả cau có tính ha khí, hành thủy, thông đại tiểu trưởng. Quả cau dừng để chữa các chứng tích, chương khí, tả hạ và sát trừng. Vỏ quả trị thủy thũng, lợi tiểu. Hạt quả trị giun sán, bụng đầy chướng, tả ly. Các người có bệnh “hư chứng” không nên dùng quả cau. Nếu dùng lầm có thế hai nguyên khí, hai ngầm cả âm huyết.

Trong quả cau còn có nhiều tanin và một alcaloit là arecolin. Hạt cau làm liệt thẫn kính giun sán, giun sán không còn bám víu vào thành ruột được nữa và dễ bị đẩy ra ngoài. Vì thể dùng hat cau trị giun sán, phổi hợp với các thuốc khác.
Arecolỉn còn có tính làm chậm nhịp đập của tim.

– Vôi ăn trầu là vôi tôi để lâu. Calci hydronxyd hút CO2 đế thành CaCp3 – vôi ăn trầu là hổn hợp Ca(OH)2và C&CO3. Cho nên người rành ăn trâu không ăn vôi mới Khi ăn trầu, dùng nhiều vôi có thế bị phỏng niêm mạc miệng.
Phối hợp ba chất “trầu, cau, vôi” tạo thành một bài thuốc có nhiều tính chất trị liệu cung như tạo ra nhiều hiện tượng hóa học và dược lý.

• Nước trầu cau màu đò
Nhai nát lá trầu với cau rồi cho thêm một chút vôi tới: Miếng trầu có màu đô máu. Vôi tác dụng với các hoạt chất của trâu cau, cho phản ứng màu rất rõ rệt.

• Arecolin làm chảy nước dãi.
Arecolin của hạt cau có tính kích thích tuyến nước bọt Vì thế khỉ ăn trầu, phải luôn luồn có ống phóng (ống nhổ) kề bên để nhổ nuớc trầu. Việc này gây rất nhiều phiền phức ở nơi công cộng. Khạc nhổ nước trầu bừa bãi rất tai hại, vì nước trầu rớt vào đầu thì rất khó rửa sạch, vết này lại màu đổ dễ phát hiện. Người nuớc ngoài không có tập tục ăn trầu, không thông cảm với cách khạc nhổ nước trầu, họ không chấp nhận việc khạc nhổ bừa bãi

• Arocolin làm chậm nhịp tim.
Arecolin của hạt cau có tính làm chậm nhịp tim. Tính chất này bị triệt tiêu khi có sự hiện diện của muối vôi (Calci). Vôi trong miếng trầu làm triệt tiêu tính làm chậm nhịp tim đập, do đó ăn trầu không sợ bị xáo trộn về tỉm.
Ngày xua chua ai biết làm thí nghiệm duợc lý, chua ai biết chất vôi ức chế tác dụng của Arecolin. Vậy mà tổ tiên chúng ta đã biết dừng vôi để triệt tiêu tác dụng có hại của arecolin, đây là một điều gây ngạc nhiên cho hầu hết các nhà khoa học. Tổ tiên chứng ta thật tài giỏi về dược lý, đã kết hợp vô cùng khéo léo các dược liệu.

• Miếng trầu làm tăng tiết dịch tiêu hóa.
Miếng trầu có tánh kích thích sự tiêu hóa, làm cho dịch vị và dịch trùng tiết ra nhiều hơn. Những người dùng trầu cau, ăn uống dể tiêu, không bị đẫy chướng, không ợ hơi, sình bụng và táo bón.

• Miếng trầu bảo vệ hàm răng

Các phái đoàn y tế nước ngoài đến làm việc tại thành phố Huế đều rất ngạc nhiên thấy các cụ già ở đây vẫn còn hàm răng tốt . Ấy là nhờ các cụ ăn trầu. Miếng trầu bảo vệ hàm răng với nhiều tính chất:

1- Lá trầu có tính sát trùng.

2- Chất chát làm cho nướu răng co lại, ôm sát chân răng khiển hàm răng cứng không lung lay. Tính sát trùng của lá trầu làm cho chân răng không bị sung (viêm nha chu)

3- Nhai trầu là một động tác luyện tập hàm răng cũng nhu người châu Âu nheo kẹo cao su vậy. Đây là một phương pháp vật lý trị liệu rất hay.

• Người ăn trầu không bị nhiễm trừng đường ruột.

• Ăn trầu không bị bệnh ký sinh ở bộ tiêu hóa

Một cuộc xét nghiệm kéo dài 1 năm với trên 100 người nghiền trầu. Phân của những người này không có kỹ sinh trùng đường ruột: amíp, giun đũa, giun kim, ankylostome, sán. Các tài liệu cổ xua đều nói rằng hạt cau có tính trị giun. Tóm lại ăn trầu ít bị các bệnh nhiễm trùng và kỷ sinh đường ruột.

• Ngày nay các nhà văn thơ ua dùng cà phê, thuốc lá để gây hứng sáng tác. Người xưa sống cuộc đời thanh thoát, miệng nhai trầu là để tâm hòn bay bổng theo dòng tư duy, thả vào hồn thơ hay đi theo các tu tưởng thấm sâu siêu việt.

• Têm trầu hi một nghệ thuật. Qua cử chỉ têm trầu, nhai trầu, người ta có thê phán đoán phong cách, tính nết và nếp sống của con người.
Ngày xua, khi đi xem mặt các cô dâu tương lai, nhà trai đợi cô gái ra têm trầu, rốt nước. Vừa để xem mặt, vừa để quan sát cử chỉ rót nước têm trầu mà phán đoán tính nết cô gái. Nếu cô gái giơ cao ấm nước, ấm nước chảy tố tố là người không lễ phép. Miếng trầu têm vụng về là người không khéo tay, không biết mày vá. Lá trầu nhô, miếng cau lớn là người không biết tính toán làm ăn. Quyệt nhiều vôi vào miếng trầu là người thiển cận, không biết lo xa. Ô! Các cụ ngày xưa chọn vợ gả chồng khó quá. Ngày nay mà kén vợ kiểu này, ế vợ là cái chắc.

• Nhưng! Miếng trầu cũng có những hậu quả xấu.
Ăn trầu có thể ngừa được nhiều bệnh. Tuy nhiên miếng trầu cũng có nhiều tác hại. Sau đây là khuyết điểm của “miếng trầu”:
– Nếu sơ ý cho nhiều vôi vào miếng trầu, có thể phồng niêm mạcc miệng.
– Bã trầu và miếng trầu dính kẽ răng làm mất thẩm mỹ vì “cái răng cái tóc lá góc con người”.
– Nước trầu làm rõ các vết nhăn trên làn môi làm khô môi.
– Khạc nhổ luôn miệng. Nhổ bừa bãi gây phiền phức và bực mình cho người xung quanh.
– Nước trầu nồng và chát lám cho vi giác hết tinh vi, không nhận biết được các vi khác nữa.
– Tuyến nước bọt, niêm mạc miệng và cổ họng, bị kích thích liên tục có thể bị ung thư.
– Sau khi ăn trầu nên đánh răng xúc miệng.

Tóm lại, miếng trầu chỉ là một vật nhai chơi, nhưng đem nhiều y nghĩa trên các địa hạt: giao tết, văn nghệ, đạo đức, tâm lý và khoa học kỹ thuật. Các khoa y dược, hóa học, ký sinh trùng, tâm lý xa hội… tất cả được gói ghém vỏn vẹn trong một miếng trầu đơn sơ nhưng súc tích.

Leave a Reply